Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, má lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái hình như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ… Người ta đội nón làm đồng, đi chợ, chơi hội
Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng
Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau
Nguyên liệu làm nón không phức tạp
Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp, dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (hiện tại người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành
Sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu
Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chính yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo# của người thợ tạo nên
Con số 16 là kết quả của sự nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho đến nay đã trở nên một nguyên tắc không đổi thay
Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng thời tránh cho lá khỏi mốc
Nón Chuông (làng nón nổi danh Việt Nam ở làng Chuông, huyện Thanh Oai – Hà Nội) có 16 lớp vòng. Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng biểu thị tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam.
Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, nghĩa là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo.
Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao… chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của đàn bà Việt Nam. Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này.
Lúc đầu khi chưa có phương tiện để khâu thắt, nón được tết đan. Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị giòn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại nhăn như cũ.
Ngoài chức năng che nắng, che mưa, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và hợp với giác quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo.
Nón có nhiều loại, nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh khảnh hơn… tất cả đều để che đậy cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.
Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét